(Ảnh minh họa: Hữu Quyết/TTXVN)Luật Tài nguyên nước năm 2012 đã có tác động tích cực đến nhận thức, hành động của toàn xã hội về bảo vệ và khai thác tài nguyên nước, sau gần mười năm thực hiện.
Một trong những mục tiêu chính của Chính phủ trong giai đoạn 2022–2023 là sửa đổi Luật Tài nguyên nước năm 2012 cho phù hợp với tình hình mới nhằm tiếp tục nâng cao hiệu quả sử dụng và bảo tồn tài nguyên nước và hướng tới đảm bảo an ninh nguồn nước.
Phóng viên TTXVN đã có cuộc trao đổi với ông Châu Trần Vĩnh, Cục trưởng Cục quản lý Tài nguyên nước, Bộ Tài nguyên và Môi trường để làm rõ vấn đề này.
- Ông có thể mô tả thực trạng của các quy định liên quan đến quản lý tài nguyên nước?
Cục trưởng Châu Trần Vĩnh: Luật Tài nguyên nước năm 2012 đã được Quốc hội XIII thông qua vào ngày 21/6/2012 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2013.
Bộ Tài nguyên và Môi trường đã xây dựng, trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành hoặc Bộ ban hành theo thẩm quyền 70 văn bản để quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành và triển khai Luật (14 Nghị định, 21 Quyết định của Thủ tướng và 35 Thông tư) dựa trên các quy định của Luật. Luật Tài nguyên nước và các Nghị định đã được thông qua và các địa phương đã ban hành 445 văn bản hướng dẫn.
[UBTV Quốc hội: Phân bổ hợp lý, sử dụng hiệu quả tài nguyên nước]
Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt 7/15 quy hoạch tài nguyên nước, bao gồm quy hoạch tài nguyên nước; quy hoạch tổng thể điều tra cơ bản tài nguyên nước; và quy hoạch tổng hợp của 5 lưu vực sông: Bằng Giang-Kỳ Cùng, Sê san, Srepok, Hồng-Thái Bình, Cửu Long. Một số văn bản đã được ban hành để trở thành công cụ pháp lý quan trọng cho công tác quản lý tài nguyên nước.
Danh mục lưu vực sông liên tỉnh, danh mục lưu vực sông nội tỉnh, danh mục nguồn nước liên tỉnh và danh mục nguồn nước quốc gia đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành.
Đối với 642 hồ chứa và đập dâng, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã công bố dòng chảy tối thiểu ở hạ lưu các hồ chứa, đập dâng của các công trình lợi, điện; có 6/63 tỉnh, thành đã phê duyệt danh mục dòng chảy tối thiểu trên sông suối nội tỉnh theo thẩm quyền.
43/63 tỉnh, thành đã phê duyệt Danh mục nguồn nước phải lập hành lang bảo vệ. Các danh mục hồ, ao, đầm phá và đầm phá được san lấp đã được công bố; danh mục vùng hạn chế khai thác nước dưới đất đã được công bố bởi 26/63 tỉnh, thành; danh mục hồ, ao và đầm phá không được san lấp được công bố bởi 47/63 tỉnh, thành.
Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt 11 Quy trình vận hành liên hồ chứa trên 11 lưu vực sông có ý nghĩa hết sức quan trọng nhằm bảo đảm điều, phân bổ nguồn nước, sử dụng hiệu quả nguồn nước và bảo vệ chống tác hại do nước gây ra.
Hệ thống quan trắc giám sát tự động, trực tuyến đưa ra các quyết định và quản lý ở Trung ương và địa phương đã được xây dựng và đang được hoàn thiện để tăng cường quản lý, giám sát hoạt động khai thác và sử dụng tài nguyên nước.
Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành gần 1.500 Quyết định phê duyệt tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước với tổng số tiền trên 12.000 tỷ đồng. Việc thực thi quy định về tiền cấp quyền khai thác đã và đang triển khai rất hiệu quả. Các tỉnh đã phê duyệt tổng số tiền cấp quyền khai thác sử dụng tài nguyên nước gần 600 tỷ đồng ở địa phương.
Luật Tài nguyên nước năm 2012 đã có tác động tích cực đến nhận thức, hành động của toàn xã hội về bảo vệ, khai thác tài nguyên nước; tài nguyên nước được quản lý, sử dụng hiệu quả, bền vững hơn, mang lại nguồn thu cho ngân sách Nhà nước. Điều này đã được thực hiện trong hơn mười năm.
Tuy nhiên, sau hơn 10 năm thi hành luật tài nguyên nước năm 2012, một số tồn tại, hạn chế đã được phát hiện, bên cạnh những kết quả đạt được.
Một số quy định của Luật Tài nguyên nước năm 2012 còn có sự giao thoa, chồng chéo với các luật khác, khiến việc thực hiện khó khăn hoặc lãng phí nguồn lực cần phải sửa đổi hoặc bổ sung để đảm bảo tính thống nhất.
Trách nhiệm quản lý nguồn nước, công trình khai thác, sử dụng nước và các hoạt động liên quan đến nước, cùng với một số nội dung của pháp luật có liên quan chưa được thống nhất, đồng bộ với Luật Tài nguyên nước, không được luật Tài nguyên nước 2012 tách biệt rõ ràng.
Điều này dẫn đến bất cập trong phối hợp triển khai giữa các bộ, ngành và địa phương và thực tế chồng chéo về nhiệm vụ.
Thiếu khung pháp lý cho an ninh nguồn nước trong bối cảnh tài nguyên nước của chúng ta đang phải đối mặt với nhiều thách thức, đặc biệt là vấn đề bảo đảm an ninh nước cho sinh hoạt.
Cục trưởng Cục Quản lý Tài nguyên nước Châu Trần Vĩnh. (Nguồn: Cục Quản lý nguồn Tài nguyên nước)Luật Tài nguyên nước 2012 cũng thiếu cơ chế, chính sách minh bạch, rõ ràng để tạo điều kiện thuận lợi, hấp dẫn khuyến khích các nguồn lực xã hội từ các thành phần kinh tế, các tổ chức chính trị-xã hội tham gia đầu tư vào lĩnh vực này nhằm tăng cường hiệu quả trong khai thác, sử dụng, bảo vệ và phát triển nguồn nước.
Không có chính sách, quy định cụ thể nào được thiết lập để tính toán đầy đủ, định giá giá trị của tài nguyên nước, dẫn đến tình trạng sử dụng nước không tiết kiệm, thất thoát, lãng phí nước và triệt tiêu động lực phát triển, không kêu gọi được việc xã hội hóa trong ngành nước.
Ngoài ra, một số quy định không còn phù hợp nữa hoặc cần phải có quy định cụ thể hơn hoặc cần phải bổ sung để quản lý tài nguyên nước hiệu quả hơn.
- Theo ông, những điểm mới nào sẽ được Bộ xây dựng trong Dự thảo luật Tài nguyên nước (sửa đổi) sẽ được Quốc hội xem xét, thông qua trong kỳ họp sắp tới?
Cục trưởng Châu Trần Vĩnh: Dự thảo Luật Tài nguyên nước (sửa đổi) bám sát vào 4 chính sách đã được Quốc hội thông qua tại Nghị quyết số 50/2022/QH15 ngày 13/6/2022, bao gồm: Bảo đảm an ninh nguồn nước; xã hội hóa ngành nước; kinh tế tài nguyên nước; bảo vệ tài nguyên nước, bảo vệ tài nguyên nước và đề xuất sửa đổi bổ sung.
Dự án Luật Tài nguyên nước (sửa đổi) hiện đang được Chính phủ trình Quốc hội theo Tờ trình 37/2023 ngày 17/2/2023, có 10 chương và 88 điều, cơ bản vẫn giữ nguyên số chương như Luật Tài nguyên nước năm 2012; cụ thể, nó vẫn giữ nguyên 10 điều, sửa đổi, bổ sung 62 điều, bổ sung 16 điều và bãi bỏ 8 điều.
Dự thảo bổ sung: Các quy định nhằm đảm bảo an ninh nguồn nước quốc gia xuyên suốt trong toàn bộ dự thảo luật thông qua các quy định để đảm bảo về số lượng nước, chất lượng cho các mục đích sử dụng, đảm bảo hệ sinh thái và môi trường và giảm thiểu tác hại do nước gây ra. Đặc biệt, các quy định cụ thể về điều, phân phối tài nguyên nước, nhất là trong điều kiện hạn hán, thiếu nước (Điều 39, Điều 40).
Bổ sung các quy định nhằm tăng cường xã hội hóa theo hướng những việc doanh nghiệp có thể làm được thì giao cho doanh nghiệp thực hiện, giảm nguồn lực đầu tư của nhà nước hướng tới nhà nước quản lý, doanh nghiệp thực hiện và dần dịch chuyển theo hướng nhà nước chỉ ban hành chính sách và hậu kiểm (Điều 14, Điều 38, Điều 72, Điều 73 và Điều 74).
Bổ sung quy định nguồn lực cho bảo vệ, phát triển tài nguyên nước, trong đó nêu rõ các nguồn lực được sử dụng để thực hiện các hoạt động bảo vệ và phát triển nguồn nước (Điều 73); làm rõ các hoạt động ưu tiên xã hội hóa, chính sách xã hội hóa trong bảo vệ và phát triển tài nguyên nước (Điều 74).
Sửa đổi, bổ sung một số quy định nhằm chuyển dần từ quản lý bằng công cụ hành chính sang quản lý bằng công cụ kinh tế thông qua các quy định về phí, lệ phí, tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước, nâng cao ý thức bảo vệ tài nguyên nước, sử dụng nước tiết kiệm của người sử dụng nước (Điều 68, Điều 69).
Sửa đổi, bổ sung quy định về tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước; bổ sung điều "tích hợp hoạt động tài nguyên nước bổ sung quy định về quản lý khai thác, sử dụng nước; bổ sung các quy định về phòng, chống sạt lở, lở lòng bờ, bãi sông, hồ (Điều 66) và các quy định về việc lập, công bố danh mục hồ, ao, đầm phá không được san lấp (Điều 63); bổ sung quy định trách nhiệm của Bộ Tài nguyên Thiên nhiên, các bộ, ngành, địa phương, tổ chức, cá nhân trong việc lập kế hoạch ứng phó, điều, phân bổ nguồn nước khi xảy ra hạn hán thiếu nước và thực hiện điều, phân phối nguồn nước trong trường hợp hạn hán, thiếu nước (Điều 39, Điều 40).
Trong toàn bộ dự thảo luật (Điều 79, Điều 80), bổ sung các quy định nhằm xác định rõ nhiệm vụ quản lý nguồn nước và quản lý công trình khai thác nước của cả Trung ương và địa phương.
Hướng tới quản lý tài nguyên nước trên nền tảng công nghệ số, thống nhất về cơ sở dữ liệu, tạo bộ công cụ hỗ trợ ra quyết định theo thời gian thực, giảm thiểu nhân lực quản lý, vận hành, chi phí đầu tư của nhà nước (Điều 42).
Dự thảo luật được xây dựng đặc biệt theo hướng tách bạch quản lý tổng hợp thống nhất về tài nguyên nước với quản lý, vận hành công trình khai thác, sử dụng nước (công trình lợi, điện, cấp nước đô thị, nông thôn, cấp nước công nghiệp dịch vụ, giao thông...); đồng thời giải quyết các chồng chéo, đan xen, xung đột, xung đột, có lỗ hổng trong luật.
Ngoài ra, có một số nội dung được chỉnh sửa, bổ sung mới như hệ thống thông tin, dữ liệu tài nguyên nước (Điều 10); bảo vệ nước dưới đất (Điều 33); bổ sung nước ngầm (Điều 43); các loại công trình khai thác, công trình sử dụng nước phải có giấy phép (Điều 47); phòng chống hạn hán, lũ, lụt, ngập úng nhân tạo (Điều 63); phương án xử lý đối với các công trình khai thác sử dụng nước kém hiệu quả dẫn đến ô nhiễm nguồn nước và suy thoái cạn kiệt (Điều 36). Bỏ quy định về đơn vị tư vấn lập quy hoạch, điều tra cơ bản tài nguyên nước.
- Dự thảo Luật Tài nguyên nước (sửa đổi) cần bổ sung quy định nào liên quan đến cơ chế tài chính tài nguyên nước nhằm nâng cao giá trị đóng góp của tài nguyên nước cho phát triển kinh tế - xã hội?
Cục trưởng Châu Trần Vĩnh: Luật Tài nguyên nước năm 2012 đã quy định nội dung tài chính về tài nguyên nước, trong đó nêu rõ một số trường hợp khai thác, sử dụng tài nguyên nước ngoài việc phải đóng thuế tài nguyên nước và các khoản thuế khác theo quy định của pháp luật về thuế; các khoản phí, lệ phí theo quy định của pháp Luật về phí lệ phí còn phải nộp tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước.
Quy định này nhằm coi nước là tài sản quốc gia, bảo đảm lợi ích của nhà nước với tư cách là đại diện chủ sở hữu tài nguyên nước, nâng cao ý thức và trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong việc khai thác, sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả và bảo đảm sự công bằng.
Dự thảo Luật Tài nguyên nước (sửa đổi) bổ sung thêm một số quy định liên quan đến cơ chế tài chính về tài nguyên nước như: Quy định về thuế, phí về tài nguyên nước theo hướng quy định về đối tượng áp dụng thuế tài nguyên liên quan đến tài nguyên nước; giá tính thuế tài nguyên.
Bổ sung mới (có quy định lộ trình) quy định thu tiền cấp quyền khai thác nước cho mục đích sinh hoạt và nông nghiệp. Bổ sung quy định về các dịch vụ bảo vệ, phát triển, tích trữ nước và phục hồi nguồn nước, nguyên tắc chi trả dịch vụ, trách nhiệm tổ chức, cá nhân đối với việc cung cấp dịch vụ, phát triển và tích trữ nước. Bổ sung các quy định về ưu đãi, hỗ trợ cho hoạt động bảo vệ, phát triển và tái tạo nguồn nước, bao gồm các quy định về chính sách ưu đãi, thuế và phí.
- Tôi đánh giá cao sự quan tâm của bạn./.
Cập nhật tin tức công nghệ mới nhất tại fanpage Công nghệ & Cuộc sống
Nguồn tin: www.vietnamplus.vn
Tham gia bình luận