Một trong những chính khách, nhà chiến lược quân sự và nhà phát minh Trung Quốc thời cổ đại là Gia Cát Lượng thời Tam Quốc. Gia Cát Lượng đã nhiều lần đánh bại quân Ngụy vào giữa và cuối thời Tam Quốc bằng cách cầm quân Bắc phạt. Ngay cả Tư Mã Ý thống lĩnh quân Ngụy cũng phải rút lui liên tục không còn sức đánh trả. Bát trận đồ là một trong những thứ giúp Gia Cát Lượng đánh bại được Tư Mã Ý khi đối trận.
Trận được chia làm tám mặt, với tám đội hình, theo mô tả có liên quan trong "Phong hậu Bát trận đồ". Thiên Phúc trận, Địa trận, Đồi trận, Phong Dương trận, Vân Thùy trận, Long Phi trận, Hổ Dực trận, Điểu Tường trận và Xà Bàn trận là tám trận.
Người bình thường ngay cả đọc cũng không được, huống chi là giải mã, bởi vì Bát trận đồ quá thần bí. Trong Tam Quốc diễn nghĩa, Tư Mã Ý cũng hiểu trận Bát quái giảng giải cho bọn Trương Hổ, Nhạc Lâm. La Quán Trung kể: “Khổng Minh vào trong trận, cầm cái quạt phe phẩy, cũng thành một trận, rồi đi ra hỏi rằng: Ngươi có biết trận này là trận gì không? ”.
Ý nói: Đó là một trận bát quái, làm gì mà không biết?
Khổng Minh nói: Đã hay rằng biết, nhưng có dám đánh vào trong trận không?
Ý nói: Đã biết sao lại không dám đánh!
Ngươi cứ việc đánh sang đi, Khổng Minh nói.
Trận của Khổng Minh bày ra, dàn theo tám cửa: Hưu, sinh, thương, đậu, cánh, tử, kinh, khai. Tư Mã Ý về trận, gọi Đái Lăng, Trương Hổ, Nhạc Lâm, dặn ba tướng rằng: “Trận này phá được, các ngươi cẩn thận giữ gìn”. Ba người phải từ cửa sinh phía đông đánh vào rồi kéo ra cửa hưu phía tây nam đánh vào.
Kết quả là toàn bộ quân Ngụy bị bắt sạch.
Trận bát quái tĩnh là một trận chiến khó khăn không chỉ là một trận pháp động. Lục Tốn, vị tướng giỏi nhất bên Ngô, trong Tam Quốc diễn nghĩa, đã bị mắc kẹt trong trận đồ của Gia Cát Lượng khi dẫn quân đuổi theo Lưu Bị sau trận Hào Đình. Hoàng Thừa Ngạn, cha vợ của Gia Cát Cát Lượng, đã xuất hiện và chỉ đạo Lục Tốn thoát khỏi thạch trận mà Gia Cát Lượng tuyên bố có uy lực tương đương với 10 vạn tinh binh.
Bát trận đồ của Gia Cát Lượng đã được nhắc đến bởi nhiều danh nhân trong tương lai. Nhà thơ thời Đường, Đỗ Phủ, được ghi nhận là đã viết bài "Bát trận đồ" và ca ngợi Gia Cát Lượng:
Công cái tam phân quốc,
Danh thành Bát trận đồ.
Giang lưu thạch bất chuyển,
Di hận thất thôn Ngô.
nghĩa là:
Công lớn bao trùm, nước chia làm ba,
Nổi danh trận đồ Bát quái.
Nước sông cứ chảy đá không lay chuyển,
Để lại hận đã thất kế thôn tính Ngô.
Tuy nhiên, bối cảnh ban đầu của "Bát trận thạch đồ" của Gia Cát Lượng đã bị thất lạc từ lâu và trận địa được lưu truyền rất có thể nằm trên bãi Nam Giang ở thành Vĩnh An.
Không ai biết về Bát quái trận trong thời kỳ Tam Quốc, cũng không thể phá vỡ Bát quái trận. Tuy nhiên, danh tướng Hoàn Ôn là người đã nắm rõ thế trận này và không bị mắc nạn trong triều đại Đông Tấn.

Hoàn Ôn là ai? Ông là con trai cả của Hoàn Di, thái thú Tuyên Thành và là phò mã của Tấn Minh đế Tư Mã Thiệu. Ông là một chính khách nổi tiếng, nhà chiến lược quân sự, nhà thư pháp và quyền thần số 1 triều đại Đông Tấn. Theo nghiên cứu, rất có thể Hoàn Ôn là hậu duệ của Hoàn Phàm, người trước đây từng là quan Đại tư nông của nhà Tào Ngụy. Hoàn Phạm, còn được gọi là "túi khôn", là mưu thần của Tào Sảng và đã bị Tư Mã Ý giết trong thời Tam Quốc.
Tuy nhiên, vì lý lịch đó, nhà Tấn dù đã phong cho ông làm phò mã nhưng vẫn hết sức dè chừng. Sau khi Hoàn Ôn trở thành Tiết độ sứ Kinh Châu và nắm quyền kiểm soát quân sự của Kinh Tư Ung Ích Lương Ninh, ông chuẩn bị tấn công quân Thành Hán cố thủ ở Ba Thục để gây dựng uy danh.
Tuy nhiên, triều đình không đồng ý với việc không nhất tâm viễn chinh vì thế lực của Hoàn Ôn mạnh mẽ và tàn hiểm. Tuy nhiên, Hoàn Ôn lúc này đã "không nghe" triều đình, dẫn quân vào Tứ Xuyên mà không được triều đình đồng ý để tấn công Thục. Trận đồ do Gia Cát Lượng sắp đặt giống như Lục Tốn ngăn cách Hoàn Ông trên đường đến Tứ Xuyên. Khi đó, không có tướng lĩnh nào trong quân đội của Hoàn Ôn biết về trận pháp này, nhưng họ cảm thấy sát khí khi nhìn thấy có một trăm nghìn quân lính phía trước.
Sau khi nhận được báo cáo, Hoàn Ôn đích thân đến xem trước mặt hai đội quân. Sau khi kiểm tra kỹ lưỡng, Hoàn Ôn trấn an chư tướng: "Đây không qua là trận pháp tầm thường do thừa tướng Thục Hán Gia Cát Lượng bày ra hơn trăm năm trước. Đó là thế nhất tự trường xà. Đánh đầu ắt đuôi quay trợ giúp, đánh đuôi ắt đầu quay trợ giúp, đánh giữa ắt đầu đuôi cùng ứng cứu," ông cũng cảnh báo các binh lính của mình không được hoảng sợ. Mặc dù thực tế là Hoàn Ôn đã nhìn thấu Bát trận đồ của Gia Cát Lượng, nhưng chính ông cũng thừa nhận rằng mình không thể phá ngay lập tức. Kết quả là, thay vì hành quân với đội hình lớn như Lục Tốn, ông tự lượng sức mình và đi đường vòng.
Lần này, Hoàn Ôn thuận lợi tiến vào đất Thục, phá thành Hán, lập công lớn, được triều đình phong làm Chính Tây tướng quân, Khai phủ nhất đồng tam tư, Lâm Hạ quận công. Ông dần nắm được quyền lực trong triều đình và thực hiện ba cuộc Bắc phạt. Sau khi trở lại triều đình, ông đã mất hết quyền lực, trở thành quyền thần đối xử với hoàng tộc nhà Tư Mã như cách nhà Tư Mã xử với họ Tào. Hoàn Ôn phế bỏ Tư Mã Dịch khỏi ngôi hoàng đế, bổ nhiệm ông làm Đông Hải vương, rồi đón Tư Mã Dục vào triều làm Tấn Văn Giản đế. Con trai của Hoàn Ôn, Hoàn Huyền, là một điển hình của Tào Phi và Tư Mã Chiêu, người đã phế luôn vua Tấn để lập ra triều đại Hoàn Sở.
Trong hơn 1800 năm qua, đã có hàng ngàn danh nhân, bậc hiền tài, nhưng chỉ có Hoàn Ôn nhìn thấu trận pháp bát quái của Gia Cát Lượng. Tuy nhiên, Hoàn Ôn biết sẽ tốn quân hao sức, gặp rủi ro khi vào trận đồ, vì vậy anh ta quyết định đi đường vòng và tiêu diệt Thành Hán.
Liệu bát quái hay thạch trận có hư cấu quá không là câu hỏi được đặt ra. Việc Hoàn Ôn né trận đồ bát quái của Gia Cát Lượng là có thật, nhưng điều đó không quá là vì ông nhận thấy địa thế ở đây dễ dính mai phục và lòng quân bất an nên quyết định xoay vòng để ổn định lòng quân cho mục tiêu quan trọng là đánh Ba Thục.
Chúng ta cũng có thể xác định Bát Quái trận là có thật bằng cách xem các ghi chép lịch sử. Để tăng cường uy lực của nó, một chiến lược kết hợp kiến thức về thiên văn và địa lý.
Trước hết, đối phương phải mò mẫm trong khi ta nắm bắt địa thế có thể đánh bất ngờ. Lực lượng của ta đã được huấn luyện, họ hiểu rất rõ trận pháp và con đường trong trận pháp cũng không xa lạ. Tuy nhiên, sau khi tiến vào, họ không thể phân biệt được phương hướng với đối phương, điều này có lợi cho việc phá vỡ kế hoạch chiến đấu của họ.
Thứ hai là kiềm chế hành động của đối phương. Vũ khí dài không thể được sử dụng trong một đội hình hẹp. Quân địch không biết điều này và họ gặp bất lợi khi cầm vũ khí lớn trong cảnh "giáo dài ngõ hẹp". Trong trận đồ, ta biết cách sử dụng lợi thế linh hoạt của vũ khí nhỏ để "dùng đoản chế trường".
Thứ ba là khi đối phương vào nơi mới không tránh khỏi sợ hãi vì chúng chưa quen môi trường trong khi ta đã quen địa hình. Do đó, khi đối phương sút giảm nhuệ khí trong khi lực lượng ta tự tin, thì chuyện 1 người địch 10 là có thật.
Trên thực tế, không khó để nhận thấy rằng việc bày binh bố trận của Gia Cát Lượng không chỉ là một chiến lược thông minh mà còn là một cách đánh vào lòng người.
Ghi chép của Lam Công trong cuốn Khổng Minh Gia Cát Lượng phần Bát trận đồ
Bát Trận của Gia Cát phỏng theo Huỳnh Đế, Phong Hậu, nhưng thực ra là điều sở hữu của Gia Cát do tâm pháp chớ không phải chỉ chuyên suy diễn từ tài liệu có sẵn.
Các lũy đá được gọi là Thiên Hoành, Địa Trục, Thiên Tiên Xung, Thiên Hậu Xung; Địa Tiền Xung, Địa Hậu Xung; Phong, hoặc Vân, là tên trận; các lũy đá được xây dựng trong cát, dọc ngang đều có tám. Do sự nhân lên với nhau mà có số đó, sáu mươi bốn là số trận nhiều hay ít. Các trận được sắp xếp theo phương hướng và được hiển thị theo vị trí thích hợp. Khuớc Nguyệt Trận là tên của hai mươi bốn trận du binh, kết thúc sau sáu mươi bốn trận. Giống như bát trận, phân cách các đội khi mở, đóng, làm hoặc nghỉ. Vào lúc hạ dinh, vây bọc che chở ở đằng sau, ra vào nhanh chóng và đối phó với địch để giữ phần thắng, như thể là tổng đồ vậy. Địa Tái phân chia bên trái bên phải thành Phong Dương, Vân Thùy; phân chia bốn góc trước sau thành Long Phi, Hổ Dực, Điểu Tuờng, Xà Bàn; và đó là cách biến hóa của Bát Đồ. Khi hợp nhất không liền nhau mà bao hàm vô tận, khi biến hóa không hề biến hóa vô ích mà có thể đối ứng với địch quân từ mọi phương (đến đánh), cứng rắn như bàn đá, hễ chạm vào là bị tan vỡ, mạnh mẽ dữ dội như ngọn lửa bùng cháy, hễ phạm vào là bị đốt thiêu khi...
Võ Hầu đã mất, nhưng trận đồ tại thành Bạch Đế thuộc châu Ngư Phúc vẫn như trước đây. Mã Long đã sử dụng ba ngàn bộ tốt, cùng với các đồ dùng phá cây và xe ngựa trị giá vài nghìn xe ngựa, vào đời Tấn để khôi phục Lương Châu như cũ, đó là để nghiên cứu trận đồ đó.
Đông Lai Lam Công lấy tư cách là Thủ Hiến Đại Độ, coi binh Hán Trung, tưởng mến Võ Hầu, khiến người đến Ngư Phúc vẽ hình các lũy đá để mà xem xét kỹ càng, và hơn nửa thời gian đó để suy nghĩ, hỏi han, bàn bạc, nghiên cứu lâu ngày. Long Chính là kẻ sĩ tại Võ Đô hiểu rõ cách tập luyện trận đồ, cùng bàn luận thì hợp ý nhau, thưởng thức sâu xa hơn, bèn khiến lấy đá nhỏ trưng bày sau sảnh đường, sắp kết hợp vào nhau, lại dời đi để biến hóa, cách kết hợp và biến hóa do thuận tay mà thành, lấy phép tắc ở đó mà dạy các tướng sĩ, xét nghiệp các điều có thể làm được, bèn viết lời giảng trận đồ, nhờ đó mà lời giảng cũ được rõ ràng thêm, mà về các cách bày trận, biến trận thì thực là phát minh ra được cái gì chưa từng được phát minh, ấn loát thành sách, từ tướng lãnh cho đến sĩ tốt, mỗi người cấp cho một bản, để mà đọc tụng và tập luyện, không bao lâu mà được tinh thục, khí thế chống địch, muôn lần hơn ngày thường vậy.
Cập nhật tin tức công nghệ mới nhất tại fanpage Công nghệ & Cuộc sống
Nguồn tin: 1thegioi.vn
Tham gia bình luận